|
TRANG WEB
LỚP 12B/2
- |
||
|
MỘT SỐ KINH NGHIỆM HỌC SAU ĐẠI HỌC Ở MỸ Các trường đại học Mỹ không tổ chứ thi tuyển mà chọn học sinh thông qua bộ hồ sơ xin học, thông thường bao gồm một bản kê khai theo mẫu in sẵn của trường, một bài tiểu luận thường từ 500 đến 700 chữ do người nộp đơn tự viết về mục đích học tập và quan tâm về chuyên môn của mình, và ba thư giới thiệu. Bộ hồ sơ này như là một sự mô tả về khả nǎng thành công trong học tập và giúp nhà trường hình dung về tương lai của người nộp đơn.
Những người được nhận vào học
phải hội đủ ba điều kiện 2. Có mục đích học tập và mối quan tâm về chuyên môn rõ ràng, phù hợp với những mục tiêu đào tạo và những mối quan tâm của nhà trường. Điều này được đánh giá qua tiểu luận về mục tiêu của người nộp đơn và ba thư giới thiệu.
3. Có đủ tiền để theo
học. Có thể nói, với cách tuyển và các tiêu chuẩn chọn người như vậy, điều
mà các trường đại học Mỹ coi trọng không phải là những kỹ nǎng hoặc các kiến
thức cụ thể có được bằng cách nhồi nhét. Cái mà họ muốn đánh giá là trí tuệ,
kinh nghiệm phẩm chất và khả nǎng thành công nói chung những điều mà một con
người chỉ có được sau một thời gian tích luỹ lâu dài. I. Về trí lực Người Việt nam ở mức trên trung bình một chút, nói chung là trí lực không đến nỗi tồi, do vậy đây có thể là phần cần phải khai thác một cách nghiêm túc. Tuy nhiên các đánh giá cǎn cứ theo các điểm của phần này rất xa lạ với người Việt Nam, nên nếu chuẩn bị vội vàng thì đây là một cản trở rất lớn.
1. Điểm tổng kết trung
bình GPA. Nói chung sự cần thiết ở đây là bằng không bởi vì điểm GPA đã cố
định. Vì vậy hoặc phải chuẩn bị từ rất xa xôi để có GPA cao hoặc là chấp
nhận GPA mình có. Tuy nhiên thực ra phần này cũng không đáng lo lắng quá. Lý
do là vì nói chung điểm GPA được chấp nhận vào các trường Mỹ không cao lắm?
thông thường là 3,5 trên thang điểm 4. Tuy Việt Nam và các nước xã hội chủ
nghĩa không có cách tính GPA, song nếu điểm tổng kết từng môn riêng lẻ từ 8
trở lên trong thang điểm 10 thì chắc chắn sẽ không có vấn đề gì.
2. Điểm trí tuệ; GMAT và
GRE. Đây có lẽ là thách đố lớn nhất đối với người Việt Nam trong mảng điểm
về trí lực. Sự khó khǎn nằm ở nội dung và cách thi GRE/GMAT. 3. Điểm tiếng Anh TOEFL. Điểm đáng mừng là ở một chừng mực nào đó, các bài thi TOEFL đã không còn là nỗi kinh hoàng đối với các thí sinh Việt Nam nữa. Được thâm nhập vào Việt Nam khoảng một chục nǎm nay, việc học và thi TOEFL đã trở nên quen thuộc vớ nhiều người. Thêm vào đó, tiêng Anh trong TOEFL nói chung là tiếng Anh phổ thông, và các bà thi không phải là quá ngoắt ngoéo nên cơ hội đạt điểm không đến nỗi quá thấp. Theo tôi, một người đã có khoảng ba nǎm làm việc thường xuyên với tiếng Anh thì sẽ không quá gian nan để đạt được 550 điểm - số điểm đủ để được một số trường đồng ý nhận với điều kiện phải học tiếng Anh một số thời gian và trước khi được nhận vào học chính thức phải chứng minh đạt đủ số điểm mà trường đó quy định (thường là 570 điểm).
|
||
|
|
||
| Sự tích con gái | ||
| Định nghĩa vợ | ||
| 6 YÊU CẦU CHO VIỆC HỌC TỐT | ||
| KỸ NĂNG GIAO TIẾP | ||
| TÌM KIẾM VIỆC LÀM | ||
| MỘT SỐ KINH NGHIỆM | ||
|
Lớp 12 B/2
-Copyright 2006 Khu 4 - TT Gia Ray - Xuân Lộc - Đồng Nai |
||